* Tình hình thị trường gia cầm tháng 3/2026 và dự báo Thị trường thế giới
+ Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt gà
Thị trường gia cầm toàn cầu trong tháng 3/2026 duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định về sản xuất nhưng chịu áp lực chi phí tăng và dịch bệnh. Trong báo cáo tháng 3/2026 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng thịt gà toàn cầu dự báo tiếp tục tăng trong nửa đầu năm 2026 nhờ mở rộng đàn và năng suất cao hơn. Tuy nhiên, sản lượng trứng và gà tây bị giảm nhẹ do dịch cúm gia cầm (HPAI) tại nhiều quốc gia. Tại Trung Quốc, sản lượng thịt gà tăng mạnh nhờ mở rộng sản xuất và hỗ trợ của các chính sách chăn nuôi khiến Trung Quốc trở thành nguồn cung xuất khẩu giá rẻ từ năm 2024 đến nay vượt qua Brazil và đứng sau Hoa Kỳ về xuất khẩu thịt gà, thúc đẩy cạnh tranh toàn cầu.
Xuất khẩu thịt gà toàn cầu tiếp tục tăng do nhu cầu từ các nước thu nhập trung bình và thấp. Ngoài ra, chi phí thức ăn chăn nuôi (đậu tương, bắp) và logistics tăng do biến động năng lượng đã làm chi phí sản xuất gia cầm tăng trong quý I/2026.
+ Diễn biến giá
Theo FAO, chỉ số giá thực phẩm toàn cầu tháng 3/2026 đạt 128,5 điểm, tăng 2,4% so với tháng 2 và tăng khoảng 1% so với cùng kỳ 2025, trong đó nhóm thịt gia cầm cũng tăng nhẹ theo xu hướng chung của chi phí năng lượng và logistics. Giá thịt gia cầm tăng nhẹ, do nhu cầu nhập khẩu mạnh ở một số thị trường được bù đắp một phần bởi nguồn cung dồi dào ở các nước sản xuất chính, hạn chế áp lực tăng giá.
Trong tháng 3/2026, giá thịt gà Mỹ có giá khoảng 2,7 USD/kg tăng 3% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ năm 2025. Giá thịt gà Brazil có giá khoảng 2,3 USD/kg, tăng 2% so với tháng trước và tăng 6% so với cùng kỳ năm 2025.
Giá thịt gà EU cũng có giá khoảng 2,9 USD/kg, tăng 2% so với tháng trước và tăng 5% so với cùng kỳ năm 2025. Giá trứng trung bình tại các thị trường lớn (Mỹ, EU) tăng khoảng 8% so với cùng kỳ năm trước, dao động ở mức 1,85 USD/tá (12 quả)
Thị trường trong nước
+ Tình hình chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển ổn định nhờ nhu cầu tiêu dùng duy trì ổn định và giá sản phẩm ở mức khá, giúp người chăn nuôi yên tâm tái đàn. Bên cạnh đó, nhờ áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và liên kết chuỗi với các doanh nghiệp lớn, nhiều trang trại gia cầm quy mô lớn tiếp tục mở rộng sản xuất. Tổng đàn gia cầm cả nước tại thời điểm cuối tháng 3/2026 ước tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà tăng 3,8%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 660,8 nghìn tấn, tăng 5,8%; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 5,46 tỷ quả, tăng 4,8%.
Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, trong tháng 3/2026, các bệnh nguy hiểm trên động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát; các ổ dịch phát sinh chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi chưa bảo đảm điều kiện an toàn sinh học và tiêm phòng chưa đầy đủ. Cụ thể tình hình dịch bệnh như sau:
Về bệnh Cúm gia cầm: Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2026, cả nước xảy ra 12 ổ dịch tại 7 tỉnh, thành phố với 50.821 con gia cầm chết, bị buộc tiêu hủy. Tại thời điểm ngày 20/3/2026, cả nước còn 4 ổ dịch tại 4 tỉnh chưa qua 21 ngày.
+ Diễn biến giá gia cầm tại thị trường trong nước
Trong tháng 3/2026, giá con giống, thịt, trứng gia cầm đều sụt giảm so với tháng 2/2026. Trong đó, giá gà thịt lông trắng ở miền Bắc trung bình trong tháng 3 ở mức 28.000 đ/kg, giảm hơn 11.000 đ/kg so với tháng 2; tại miền Trung là 26.000 đ/kg, giảm 3.400 đ/kg; tại miền Nam là 26.200 đ/kg, giảm 3.600 đ/kg. Giá gà thịt lông màu trung bình trong tháng 3 ở miền Bắc là 54.400 đ/kg, giảm 600 đ/kg; tại miền Trung là 47.600 đ/kg, giảm gần 2.500 đ/kg; tại miền Nam là 46.800 đ/kg, giảm 1.800 đ/kg. Giá vịt thịt trong tháng 3 tại miền Bắc phổ biến ở mức 32.200 đ/kg, giảm 6.800 đ/kg; riêng miền Nam giá vịt thịt lại tăng 7.600 đ/kg lên 40.700 đ/kg.
Tình trạng giá gia cầm giảm sâu hiện nay chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chính, liên quan đến sự lệch cung – cầu và yếu tố mùa vụ của thị trường. Trước hết, nhiều trang trại và hộ chăn nuôi đã chủ động tăng đàn gà thịt và gà đẻ từ cuối năm 2025 khiến nguồn cung gia cầm, đặc biệt là trứng và gà thịt, rơi vào tình trạng dư thừa. Nguyên nhân thứ hai đến từ sự suy giảm nhu cầu tiêu dùng sau Tết, người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, dẫn đến nhu cầu đối với thực phẩm tươi sống giảm đáng kể, trong đó có các sản phẩm gia cầm. Đối với trứng gia cầm, giá bán buôn tại trang trại thường dao động khoảng 1.500–2.200 đồng/quả đối với trứng gà công nghiệp, trong khi giá bán lẻ tại chợ và siêu thị có thể đạt 2.500–4.000 đồng/quả tùy khu vực và thương hiệu. Sự chênh lệch giá giữa khâu sản xuất và bán lẻ phản ánh chi phí vận chuyển, bảo quản và phân phối trong chuỗi cung ứng thực phẩm.
Tại miền Bắc: Giá con giống, thịt, trứng gia cầm đều sụt giảm tại khu vực miền Bắc trong tháng 3/2026 tăng do nguồn cung dồi dào, tiêu thụ thấp. Gà Mía có giá bán trung bình đạt 90.000 đ/kg, gà Minh Dư và gà Ri dao động từ 55.000 - 60.000 đ/kg; Giá gà thịt lông màu ngắn ngày tại trại trung bình đạt 52.800 đ/kg, giảm 4,7%; giá gà chuyên thịt ở mức 25.600 đ/kg, giảm 37,6%; giá vịt thịt tại trại loại đẹp trên 3,5kg/con bán buôn trung bình đạt 30.100 đ/kg, giảm 24,8. Giá vịt bầu cánh trắng tại trại đạt 38.000 đ/kg. Giá trứng gà, trứng vịt trung bình cũng giảm lần lượt 19,6% và 25%. Tại miền Trung: Giá gà khu vực miền Trung, Tây Nguyên cũng giảm nhẹ so với tháng trước. Hiện tại, giá gia cầm tại các địa phương khu vực này có sự chênh lệch lớn, dao động từ 31.400 - 52.280 đ/kg tùy loại. Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh là những địa phương có cao nhất khu vực, đạt 53.000 đồng/kg.
Tại phía Nam: Giá gà thịt lông màu tại trại ở khu vực phía Nam trong tháng 3/2026 giảm so với tháng trước, trung bình đạt 46.180 đ/kg, giảm 4,8% so với tháng trước. Tuy nhiên, giá vịt thịt tại khu vực lại tăng lên 40.600 đ/kg.
Giá các sản phẩm gia cầm tại trại ở các vùng miền trên cả nước tháng 3/2026


+ Xuất khẩu thịt gà
Trong tháng 02/2026, xuất khẩu thịt gà các loại đạt 167 tấn, trị giá đạt hơn 661 nghìn USD, giảm 67,1% về lượng và giảm 63,4% về trị giá so với tháng trước; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 675 tấn, trị giá đạt hơn 2,4 triệu USD, giảm 7,6% về lượng và giảm 0,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Về thị trường trong tháng 02/2026, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu thịt gà lớn nhất của Việt Nam, với lượng xuất khẩu đạt 136 tấn, trị giá đạt hơn 572 nghìn USD, giảm 63,9% về lượng và giảm 64,6% về trị giá so với tháng trước; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 513 tấn, trị giá đạt hơn 2,1 triệu USD, giảm 11,5% về lượng và tăng 1,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
+ Nhập khẩu thịt gà
Trong tháng 02 năm 2026, nhập khẩu thịt gà đạt hơn 19,4 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 18,7 triệu USD, giảm 32,7% về lượng và giảm 38,7% về trị giá so với tháng trước; giá nhập khẩu bình quân của chủng loại thịt gà đạt hơn 966 USD/tấn, giảm 9% so với tháng trước; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 48,1 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 49,2 triệu USD, giảm 17,5% về lượng và giảm 24,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Về thị trường, trong tháng 02/2026, Hoa Kỳ là thị trường cung cấp thịt gà lớn nhất cho Việt Nam, với lượng nhập khẩu thịt gà đạt hơn 4,8 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 5,4 triệu USD, giảm 47,8% về lượng và giảm 50,5% về trị giá so với tháng trước, chiếm 29,3% thị phần của mặt hàng này; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 14,1 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 16,5 triệu USD, giảm 34,6% về lượng và giảm 35,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước Thị trường Hàn Quốc đứng thứ 2, với lượng nhập khẩu đạt hơn 3,4 nghìn tấn và trị giá đạt hơn 4,6 triệu USD, giảm 47,5% về lượng và giảm 41,3% về trị giá so với tháng trước, chiếm 24,9% tỷ trọng; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 9,9 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 12,6 triệu USD, tăng 3,8% về lượng và giảm 1,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ 3 là thị trường Ba Lan với lượng nhập khẩu đạt hơn 1,6 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 1,9 triệu USD, giảm 46,6% về lượng và giảm 40,3% trị giá so với tháng trước, chiếm 10,6% thị phần; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 4,7 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 5,2 triệu USD, giảm 2,6% về lượng và giảm 25,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ 4 là thị trường Thổ Nhĩ Kỳ với lượng nhập khẩu đạt hơn 3 nghìn tấn và trị giá đạt hơn 1,7 triệu USD, tăng 10,7% về lượng và tăng 6% về trị giá so với tháng trước, chiếm 9,2% thị phần; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 5,7 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 3,3 triệu USD, tăng 458% về lượng và tăng 267% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Đứng thứ 2 là thị trường Nga với lượng xuất khẩu thịt gà đạt hơn 16 tấn, trị giá đạt 56,9 nghìn USD, tăng 10,6% về lượng và tăng 11,2% về trị giá so với tháng trước; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 đạt 115 tấn, trị giá đạt hơn 132,3 nghìn USD.
+ Nhập khẩu con giống
Trong tháng 02/2026, nhập khẩu con giống đạt hơn 476 nghìn con, trị giá đạt hơn 23,1 triệu USD, tăng 2,2% về lượng và giảm 33,1% về trị giá so với tháng trước, giảm 3,4% về lượng và tăng 30,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025; Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 942 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 57,6 triệu USD, tăng 10,4% về lượng và tăng 54,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 02/2026, nhập khẩu trâu giống có kim ngạch nhiều nhất với số lượng hơn 22 nghìn con, trị giá đạt hơn 12,8 triệu USD, tăng 57,7% về lượng và tăng 58,4% về trị giá so với tháng trước và tăng 199% về lượng và tăng 148% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nhập khẩu bò giống loại khác đứng thứ hai với hơn 12,2 nghìn con, trị giá đạt hơn 6,5 triệu USD, giảm 56,9% về lượng và giảm 70,9% về trị giá so với tháng trước và tăng 45,6% về lượng và giảm 21,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu gà giống đạt hơn 439,4 nghìn con, trị giá đạt hơn 3,3 triệu USD, tăng 4,6% về lượng và tăng 9,7% về trị giá so với tháng trước, và giảm 5,4% về lượng và tăng 12,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Dự báo
Thị trường gia cầm toàn cầu đang trong xu hướng tăng trưởng ổn định với giá tăng nhẹ, trong khi thị trường Việt Nam vẫn chịu áp lực dư cung khiến giá thấp hơn cùng kỳ. Trong thời gian tới, giá gia cầm toàn cầu nhiều khả năng tiếp tục tăng nhẹ, còn Việt Nam sẽ phục hồi chậm và ổn định hơn.
(Nguồn: Ban Biên tập Bản tin Thị trường tổng hợp)